Mối thợ

Mối thợ có đầu hình tròn, toàn thân màu trắng, hình thuôn dài, tương đối trong. Riêng mặt lưng của phần bụng có thể có vết xám đen, hơi hồng là do màu của thức ăn trong ruột mối

Mối thợ thường nhỏ hơn các thành viên khác trong đàn nhưng số lượng lại đông hơn. Chúng có nhiệm vụ xây dựng và sửa chữa tổ, chuẩn bj thức ăn và nuôi dưỡng các thành viên khác trong đàn. Chúng coi sóc trứng, ấu trùng và nhộng.

Mối thợ dùng đồ ăn và bùn, qua gia công kỹ lưỡng dính vào nhau để xây tổ. Có tổ mối chính và tổ mối phụ, là nơi chủ yếu để tập đoàn mối hoạt động và sinh sống. Ở Châu Phi, có loài Mối xây tổ thành gò cao trên mặt đất tới hơn 10m và rất chắc chắn tựa như pháo đài, thành lũy vậy.

CÔNG TY DIỆT MỐI

Mối chúa

Mối chúa bắt đầu cuộc đời của mình như một con cái giống, với những chiếc cánh. Cùng với nhiều con cái khác và những con đực có cánh, nó bay ra khỏi tổ, nơi nó đã sinh ra. Đó là sự chia đàn. Nó hạ cánh ở một nơi nào đó, hai cánh bị mất đi và kết đôi với một con đực. Như vậy, chúng đã tạo ra được một tập đoàn mới. Sau lần cặp đôi và đẻ trứng đầu tiên, mối chúa chỉ đẻ 5 – 25 trứng, tùy theo loài. Sức sinh sản này tăng dần theo tuổi. Trong 1 tổ mối, có thể có nhiều mối chúa nên sức sinh sản của 1 đàn mối cực kỳ lớn. Một số loài có khả năng duy trì tuổi thọ của đàn tới gần 100 năm.

mối chúa

Mối chúa có thể sinh sản theo cả hai hình thức hữu tính và vô tính.

Những con mối được sinh sản vô tính hếu hết đều sẽ trở thành kẻ nối nghiệp – gọi là “mối chúa thứ cấp” – sống trong tổ mối và giao phối với mối đực. Dòng mối con vô tính được sinh ra với số lượng lớn này không mang những nguy cơ bẩm sinh bởi mối chúa thứ cấp không có chứa gen nào giống với mối vua.

Nghiên cứu cho thấy mối con được sinh ra theo cách cũ giữa mối chúa sơ cấp hay mối chúa thứ cấp với mối vua hầu hết đều là thợ hoặc lính ở cả hai giới.

Loài mối Reticulitermes speratus sống dưới đất được nghiên cứu là côn trùng gây thiệt hại kinh tế lớn.

Tổ mối thường được thiết lập và duy trì bởi một mối vua và một mối chúa. Trong số các tổ này, mối chúa sơ cấp không có mặt nhưng lại có rất nhiều mối chúa thứ cấp. Ngược lại, hầu hết mối vua đều có ở tổ. Mối vua sống thọ hơn mối chúa sơ cấp, do đó cần thiết phải có những kẻ nối dõi mối chúa giống về mặt di truyền để cai trị tổ mối.

Phân tích di truyền của tổ mối cho thấy mối chúa thứ cấp có gen giống với mối chúa sơ cấp nhưng không giống bộ gen của mối vua, điều này cho thấy có sự tồn tại của sinh sản vô tính. Cùng lúc đó, mối thợ và mối lính dù là đực hay cái đều mang gen của cả mối chúa và mối vua, nghĩa là chúng được sinh sản hữu tính.

Theo nghiên cứu bằng cách tìm hiểu các loài mối khác có hai hệ thống giao phối. Di truyền học đứng đằng sau sinh sản có thể mang lại các phương pháp ngăn cản sinh sản ở một số vị trí nhất định trong tổ mối – ví dụ như ở loài mối chúa có hai cách sinh sản – hoặc mang lại những biện pháp loại bỏ những chức năng gen của những cá thể đảm nhận các vị trí đó.

CÔNG TY DIỆT MỐI

Tác hại của mối đối với đê đập

Mối là một nhóm các loài côn trùng xã hội. Các cá thể trong một đàn sống quần tụ trong một tổ. Tổ của nhiều loài là các khoang rỗng lớn trong lòng đất, đường kính khoang tổ có thể tới hàng mét. Một tổ có thể có tới hàng trăm khoang, hàng trăm hang giao thông đi ra từ các khoang tổ, tổng thể tích rỗng của một tổ mối có thể tới vài chục mét khối. Chính thể tích rỗng của tổ mối là nguyên nhân gây tác hại đối với các công trình thủy lợi bằng đất; vào mùa lũ nước chảy qua thân đê, thân và nền đập theo hệ thống rỗng của tổ mối. Theo ghi nhận của Phòng quản lý công trình – Ty thủy lợi điện lực Quảng Châu và nhiều Công ty chuyên chống mối cho thấy mối đã gây ra hàng chục vụ vỡ đê, đập, hàng trăm vụ sự cố rò rỉ trên thân đê đập ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Ở Việt Nam, nhiều vụ tổ mối gây ra sập mái đê, rò rỉ thân đê như vụ ô tô bị sập và chui vào tổ mối ở đê Tả Hồng huyện Đông Anh, Hà Nội vào năm 1969 (theo lời kể của cán bộ quản lý đê Đông Anh, Hà Nội). Công Ty Diệt mối và khử trùng Hà Nội (Hanoi PestControl) đã từng chứng kiến một vụ tổ mối gây rò rỉ thân đê sông Hồng, khi chúng tôi đến đội quản lý đê đã cắm biển báo sự cố do tổ mối, từ lỗ rò vẫn thỉnh thoảng thây mối chui ra và xung quanh có nhiều xác mối (xem hình 1, 2). Trước đấy 12 giờ, nước trong sông vượt mức báo động 3, nước phun ra ở mái phía đồng thành vòi trong đó có xác mối (theo lời kê của người quản lý đê). Tóm lại, tác hại của mối đối với các công trình thủy lợi là rất lớn, việc xây dựng giải pháp xử lý mối để bảo vệ công trình thủy lợi, thủy điện bằng đất là rất quan trọng. Công tác xử lý mối cho công trình thủy lợi hiện nay chủ yếu là 2 biện pháp đào bắt mối chúa và khoan phụt xử lý tại tổ mối.
Picture
2. Hiện trạng xử lý phòng trừ mối cho công trình đê đập ở Việt Nam hiện nay

2.1. Về tiêu chuẩn và định mức kỹ thuật

Nhận thấy rõ tác hại của mối đối với công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành một số tiêu chuẩn định mức liên quan đến công tác khảo sát và xử lý mối như sau:

Tiêu chuẩn ngành 14TCN 89-93 qui định rõ về “Thành phần và khối lượng khảo sát và xử lý mối cho đập đất”. Trong đó nêu rõ các cấp độ đập cần được khảo sát và xử lý mối, phạm vi cần khảo sát và xử lý mối, các loài mối cần được xử lý.

Tiêu chuẩn ngành 14TCN 182: 2006 về”Qui trình kỹ thuật khảo sát, phát hiện tổ mối và ẩn họa trong thân đê, đập”. Trong đó qui định các nội dung tiến hành khảo sát xác định tổ mối và ẩn họa trong thân đê, đập.

Tiêu chuẩn ngành 14TCN 167:2006 về “Mối gây hại công trình thủy lợi – Phân loại và đặc điểm sinh học, sinh thái”. Trong đó qui định rõ các loài gây hại cần xử lý và công trình có các dấu hiệu về mặt sinh học, sinh thái mối cần được tiến hành khảo sát và xử lý mối.

Định mức 221 qui định về “Định mức dự toán cho công tác điều tra, khảo sát và xử lý mối” (QĐ 221/1998/Q Đ/BNN-XDCB).

2.2. Về thực tế xử lý phòng trừ mối

Công tác xử lý phòng trừ mối đối với đập đang vận hành thường được tiến hành đồng thời với các dự án sửa chữa nâng cấp đập. Nói như vậy có nghĩa là các đập không thuộc diện cần nâng cấp, sửa chữa thì dù có mối hại cũng không được xử lý phòng trừ mối, như: đập Xạ Hương (Vĩnh Phúc), Đạ Hàm (Lâm Đồng), EaKao (ĐakLak)…hiện nay có nhiều mối nhưng không có dự án để xử lý mối. Điều này không hợp lý vì mối hại âm thầm trong thân đập nên dễ gây ra sự cố bất ngờ.

Đối với đập đang vận hành, nhiều đập thường được tiến hành xử lý tổ mối bằng cách đào bắt mối chúa như ở đập Núi Một (Bình Định), Dầu Tiếng (Tây Ninh), Xạ Hương (VĨnh Phúc)…. Kết quả của biện pháp này chỉ đạt được hiệu quả diệt các tổ mối nổi là 35%, số tổ mối được xử lý bằng phương pháp này hoạt động trở lại là 65% và các tổ hoạt động trở lại có khả năng đào khoét thân đập mạnh hơn trước.

Đối với đập xây dựng mới, hiện nay nhiều dự án thiếu công tác khảo sát và xử lý mối cho nền đập như đập Phước Hòa (Bình Dương), Sông Ray (Đồng Nai)…. VIệc này xảy ra do các nhà thiết kế không phải là các nhà sinh học, nên trong quá trình khảo sát thực địa để lập báo cáo trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư không thấy được dấu hiệu tổ mối ở nền công trình nên không đưa công tác khảo sát và xử lý mối vào công tác xây lắp.

Đối với đê, mỗi cung đoạn đê đều có đội quản lý đê. Hàng năm các đội quản lý đê thường tiến hành đào bắt mối chúa, sau khi đào bắt mối chúa tổ mối được đổ thuốc trừ sâu và hoàn trả mái đê như cũ, việc đào bắt mối chúa trên đê được sử dụng rất phổ biến vào những năm 70-80 của thế kỷ trước [4] . Qua thực tế đào bắt mối chúa ở nhiều đoạn đê cho thấy tỷ lệ bắt được chúa chỉ khoảng 30% số tổ đã đào, các tổ đã bị bắt chúa vẫn có khả năng hoạt động trở lại, nguyên nhân của hiện tượng này là do mối có khả năng thay thế mối chúa khi bị chết chúa [3]. Nhược điểm nữa của giải pháp này là hang giao thông cũng vẫn không được xử lý, ẩn họa trong thân đê vẫn còn và làm vỡ kết cấu của thân đê. Hiện nay, nhiều đoạn đê xung yếu đã được tiến hành xử lý mối bằng công nghệ khoan phụt xử lý mối tại tổ. Hiệu quả của công nghệ này chắc chắn là rất tốt, nó giúp cho việc lấp bịt khoang tổ và hang giao thông bằng vữa sét mà không phải đào bới, hiệu quả xử lý hầu như đạt 100%. Tuy nhiên, việc xử lý mối bằng công nghệ khoan phụt tại tổ mối mới được tiến hành cục bộ ở từng đoạn, tổng chiều dài các đoạn đê đã được xử lý nhỏ hơn rất nhiều so với chiều dài toàn tuyến đê. Các các đoạn đê còn lại và môi trường xung quanh chưa được xử lý mối. Do đó mối hàng năm mối cánh từ các đoạn đê chưa xử lý và môi trường xung quanh sẽ bay vào các đoạn đê đã xử lý để làm tổ.

2.3. Biện pháp xử lý

Khi có các dấu hiệu sinh học, sinh thái học cho thấy cần xây dựng kế hoạch phòng trừ mối thì báo cáo lên các cấp có thẩm quyền để xây dựng kế hoạch xử lý.

Xây dựng một tiêu chuẩn về quản lý an toàn về mối cho đập trong đó qui định rõ chu kỳ khảo sát và xử lý phòng trừ mối đối với từng loại đập.

Đối với các loại đê điều có thể giải quyết bằng một qui định bắt buộc trong báo cáo chuẩn bị đầu tư có nội dung đánh giá về hiện trạng mối./.

VIET NAM PEST CONTROL

Mối cánh

Mối cánh cũng nguy hiểm như những dạng mối khác trong họ mối. Mối cánh hay mối cánh dài là do mối non trải qua một số lần lột xác mà thành. Chúng cũng đi kiếm ăn như mối lao động.

Hàng năm vào cuối mùa xuân khi áp xuất không khí thích hợp, nhất là vào trước các cơn mưa giông hoặc lúc hoàng hôn mối sẽ ra ngoài để kiếm ăn, giao hoan và phân đàn. Đặc biệt, trong thời gian bay ra tổ, mối cánh đực sẽ đi tìm một con cái, cắn đuôi rồi đi tìm nơi cư trú, lập thành một đàn mối mới.

VIET NAM PEST CONTROL

Tác hại của mối đối với các công trình xây dựng

Đối với những công trình kiến trúc nói chung, tác hại của mối gây ra cho các công trình là vấn đề rất đáng quan tâm của các nhà đầu tư và xây dựng. Mục tiêu xâm nhập của mối là gỗ và các sản phẩm có nguồn gốc từCenllulose (Gỗ, giấy, vải, thảm…) những vật liệu này thường có nhiều ở các công trình xây dựng do đó việc xâm nhập vào công trình là điều tất yếu. Khi công trình bị mối xâm nhập thì không chỉ các vật liệu gỗ, giấy tờ tài liệu trong các công trình bị huỷ hoại mà ngay cả kiến trúc công trình cũng bị xuống cấp do việc làm tổ và đi tìm thức ăn của mối.

Theo điều tra cơ bản ở Việt Nam đã phát hiện trên 20 loài mối có mặt trong các công trình, có các mức độ và hình thức gây hại khác nhau. Đặc biệt phải kể đến đối với các công trình xây dựng là sự phá hoại của mối Coptotermes. Đây là giống mối phổ biến ở nhiều nước, và gây ra tác hại đáng sợ nhất. ở mối coptotermes có một tuyến dịch tiết ra từ tuyến hạch trán (pH @4,5) có thể làm mủn vữa xây tường vì thế chúng có thể đi xuyên qua tường từ phòng này sang phòng khác, từ tầng dưới lên tầng trên để kiếm thức ăn. Tổ mối có thể nằm dưới nền nhà, trong lỗ hổng kiến trúc, trong panen, thậm chí trong tủ, hòm quần áo, trong chậu cảnh…

Như chúng ta đã biết về đặc tính sinh học của mối, sau thời gian bay giao hoan chúng tìm kiếm những khe nhỏ để làm tổ. Vì làm tổ trong gỗ lên trong thời gian làm tổ chúng sống ẩn dật và không cần đi ra ngoài nên chúng ta có thể phát hiện được sự xâm nhập của mối, sau khi tổ đã phát triển mạnh với nhiều cá thể thì chúng bắt đầu phá hoại một cách mạnh mẽ.

Xuất phát từ tổ mối chúng bắt đầu tiến hành phá hoại công trình, nội thất trang trí và các sản phẩm gỗ hoặc các vật dụng có nguồn gốc từ Cenllulose. Các vật dụng chi tiết khi bị mối xâm nhập nhìn bề ngoài tưởng như nguyên vẹn nhưng bên trong đã bị mối ăn rỗng không còn giá trị sử dụng bắt buộc phải thay thế gây tổn hại kinh tế cho chủ sở hữu công trình.

Tác hại của mối không chỉ đối với các vật liệu gỗ mà còn ngay cả với các máy móc thiết bị cũng không tránh khỏi sự phá hoaị của mối. Để tìm được thức ăn mối luồn lách qua những khe nhỏ và đắp đường mui đất để đi, do đường đất của mối thường ẩm lúc mới đắp nên những thiết bị điện thường bị chập gây cháy nổ.

Có những loại mối như giống mối đất Odontotermes cũng ăn hại gỗ, chủ yếu là những loại gỗ tiếp giáp đất nhưng khi các cột gỗ đã bị rỗng thì chúng có thể leo lên theo đến tận trên cùng. Loài mối này làm tổ ở dưới nền đất, tổ của chúng thường là các ụ lớn và có rất nhiều khoang nằm sát mặt đất. Chúng sẽ đùn đất qua các kẽ nứt ở nền nhà, đất đùn nên càng nhiều thì nền nhà càng rỗng, gây ra sụt lún nền nhà. Nếu tổ mối to có thể gây sụt lún nền móng công trình.

VIET NAM PEST CONTROL

 

Phòng chống mối cho cây trồng

Để công việc diệt mối, phòng chống mối cho cây trồng đạt hiệu quả cao, tránh những tổn thất do mối gây ra đối với nông, lâm nghiệp. VIET NAM PEST CONTROL hướng dẫn bà con cách diệt mối, phòng chống mối cho cây trồng như sau:

Hướng dẫn diệt mối phòng chống mối cho cây trồng

Đối với cây ngắn ngày như khoai lang, khoai tây, đậu phộng (lạc),… dùng thuốc trừ sâu: Vibasu 10H; Bam 5H hoặc Basudin 5H, lượng 1-1,2kg/sào Bắc bộ(360m2), rắc đều vào ruộng khi làm đất, hoặc trộn đều với đất, phân theo rạch hay hốc.
Đối với cây lâm nghiệp (bạch đàn, thông, phi lao): Cần vệ sinh vườn, rừng trước khi trồng cây con, dọn sạch cành, lá khô, vì cành, lá khô là thức ăn của mối, nhử mối đến.
Khi thấy mối phá hại, ta tiến hành làm hố bẫy mối diệt mối tận gốc như cách làm đối với trong vườn ươm. Khoảng 500-1.000m2 vườn rừng đào một hố. Dò tìm tổ mối, dùng thuốc diệt mối tận gốc phun trực tiếp vào trong tổ để diệt tổ mối và chống mối cho rừng trồng.

Trồng tăng mật độ, đến khi cây vượt qua giai đoạn hay bị mối hại ta tiến hành tỉa thưa đảm bảo mật độ như đã định để phòng chống mối. Những khu vực nhiều mối, khi trồng rừng tái sinh chọn những cây đề kháng cao với mối như: Keo các loại, lim, lát… Tránh trồng những cây dễ bị nhiễm mối như: bạch đàn, phi lao, thông,…

Để phòng chống mối cho rừng trồng tốt nhất nên trồng cây con có bầu nilon chứa giá thể đã trộn thuốc chống mối vào khu vực có nhiều mối hại, khi thuốc hết tác dụng cũng là lúc cây lớn, vượt qua giai đoạn hay bị mối hại.

Trong quá trình làm hãy tham khảo của các chuyên gia trong ngành tư vấn cách diệt mối và chống mối cho vườn cây đạt hiệu quả.

Hướng đẫn diệt mối phòng chống mối cho vườn ươm

Mối thường hại nặng cây con trong mùa khô, mối tập trung hại ở những nơi có độ ẩm đất 50-60%, có nhiều sản phẩm thực vật bán hoai mục như thân, lá cây khô, rễ cây mục nát… (là thức ăn khoái khẩu của mối). Trong vườn ươm, mối chủ yếu tấn công hạt hoặc hom giống, làm ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trường của cây con, giảm chất lượng của cây giống. Ta cần tiến hành một số biện pháp phòng chống mối và diệt mối gây hại sau đây:

Cách làm diệt mối, phòng chống mối:

– Khoảng 100-200 m đất làm một hố bẫy có kích thước 0,5-0,6m chiều dài, 0,5-0,6m rộng, 0,4-0,6m sâu. Dùng loại thực vật mối thích ăn như rơm, rạ hoặc lá cọ khô, bã mía khô …chặt ngắn 0,2-0,3m. Tưới nước đường ,(hay chất dẫn dự mối ) nồng độ 5% đủ ẩm vào hố bẫy để dụ mối đến ăn.

– Lấp đất dày 15-20cm, sau khoảng 15-20 ngày thăm thử, nếu thấy mối đến nhiều, dùng lọ thuốc diệt mối tận gốc (dạng bột mịn có bán tại các cửa hàng bán thuốc bảo vệ thực vật phun vào mối thợ, các con mối nhiễm thuốc, sau 2-3 ngày sẽ chết và sẽ gián tiếp lây nhiễm đầu độc tổ mối khi thuốc dính vào nhau. Khi mối chúa nhiễm thuốc do tiếp xúc với mối thợ khi giao phối sẽ chết và đàn mối bị tuyệt giống, nạn mối được diệt tận gốc .

– Sau thời hạn trên 6 tháng đến 1 năm có thể mối ở các vùng lân cận phân đàn di chuyển đến, nên ta thường xuyên phải kiểm tra phòng chống mối, phát hiện sớm và diệt mối kịp thời.

Quý khách có nhu cầu sử dụng diệt mối, phòng chống mối chuyên nghiệp cho cây trồng trong nông và lâm nghiệp xin vui lòng liên hệ tới VIET NAM PEST CONTROL.

Phòng trừ mối hại cây trồng

Mối là nhóm côn trùng xã hội gồm khoảng 2700 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Nhiều loài được coi là đối tượng gây hại cho cây trồng, ỗi vùng có danh sách các loài mối gây hại khác nhau. Tác hại của mối thường được đánh giá ở các khía cạnh: mối tấn công tế bào sống của cây, làm gãy cành và thân cây.

Ở Việt Nam, dẫn liệu về mối gây hại cây trồng còn rất ít ỏi. Nhằm đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, mức độ tác hại của mối đối với cây trồng chúng tôi được thực hiện đề tài “Nghiên cứu phòng trừ mối hại cây công nghiệp ca cao, cà phê và đập ở các tỉnh Tây Nguyên”. Sau 2 năm nghiên cứu từng phần kết quả của đề tài về thành phần loài, mức độ gây hại và đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài đã được công bố, trong đó nêu rõ mức độ gây chết cây mới trồng và các loài mối gây hại nghiêm trọng đối với cây cà phê, ca cao mới trồng là các loài Macrotermitinae và nguy hiểm nhất là loài Microtermes pakistanicus [2,3]. Trong bài báo này, chúng tôi đưa ra những kết quả ban đầu về việc áp dụng các biện pháp xử lý của một số nhà nghiên cứu, các chủ vườn cây và những kết quả nghiên cứu mới theo hướng này.

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

Các loại thuốc phòng trừ mối, ni lông dùng để ngăn mối được mua trên thị trường Việt Nam, ni lông là loại dùng để che phủ luống trồng cây trong nông nghiệp. Bả diệt mối được chế tạo tại Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm xử lý phòng trừ mối cho cây trồng được tiến hành bằng các cách khác nhau rồi kiểm tra hiệu quả phòng trừ mối. Hiệu quả của các biện pháp xử lý phòng trừ mối cho cây được thử nghiệm trên các lô cây trồng trên nền đất bazan được kiểm tra bằng cách thống kê tỷ lệ cây chết ở lô thí nghiệm so với tỷ lệ chết của cây ở lô đối chứng. Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần có đối chứng.

Hiệu quả phòng mối của các biện pháp mà các chủ vườn thực hiện theo hướng dẫn của các nhà nông học được thống kê trên diện tích lớn (1ha) có so đối chứng.

Thức ăn của các loài mối được thu thập, mô tả trên hiện trường và kết hợp với thu mẫu mối.

Phân bố của mối được quan sát qua các hố đào ở nền vườn trước khi trồng và ở lô cà phê trưởng thành.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Hiệu quả của biện pháp trộn hoá chất vào trong hố đất trồng cây

Thí nghiệm 1:

Thí nghiệm được bố trí tại vườn cây trồng cây cà phê, các hố trồng cây có kích thước 45cmx 45cm x 50cm. Chọn 3 ô thí nghiệm, mỗi ô 9 cây. Sau khi trồng cây, xung quang gốc cây được tưới thuốc Lentrek 40EC với bán kính là 35cm, nồng độ1,5%, liều lượng là 1,7lít / 1 gốc cây.

Sau 3 tháng kiểm tra. Tỷ lệ chết ở lô thí nghiệm là 0%, trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng (chỉ tưới nước) là 5%.

Thí nghiệm 2:

Thí nghiệm được bố trí tại vườn cây trồng cây cà phê, các hố trồng cây có kích thước 45cmx 45cm x 50cm. Chọn 3 ô thí nghiệm, mỗi ô 9 cây. Sau khi trồng cây, xung quang gốc cây được tưới thuốc Termidor 2.5EC với bán kính là 35cm, nồng độ 0,15%, liều lượng là 1,7lít / 1 gốc cây.

Sau 3 tháng kiểm tra. Tỷ lệ chết ở lô thí nghiệm là 0%, trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng (chỉ tưới nước) là 5%.

Hiệu quả của biện pháp trộn chế phẩm vi nấm vào đất trồng cây

Thí nghiệm 3:

Thí nghiệm được bố trí trên 3 ô, mỗi ô 9 cây như thí nghiệm 1, chỉ khác là chế phẩm vi nấm ở dạng bột nên phải trộn khô với đất trước khi đưa vào hố để trồng cây. Mỗi hố được trộn 100g chế phẩm Metavina 90DP.

Sau 3 tháng kiểm tra. Tỷ lệ chết ở các lô thí nghiệm là 18,5% trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng là 20%.

Hiệu quả của biện pháp dùng các loại hoá chất khác tưới vào gốc cây và thân cây

Biện pháp này được thực hiện bởi các nông trường viên như ở Công ty cà phê Eapok, Công ty Cà phê Tháng 10, Công ty cà phê Krông Ana. Thường khi trồng, xung quanh gốc cây được rắc xung quanh bầu cây bằng thuốc Basudin 10H với liều lượng 5g/hố.

Sau 1 tháng lại lấy Basudin 10H rắc vào gốc cây, sau khi rắc lấy đất xung quanh rắc phủ lên 1cm với liều lượng 1,5g/gốc.

Sau đó khoảng 2 tháng một lần sẽ phun Subatox 40EC với liều lượng 0,14 lít/gốc, nồng độ 3% hay Confidor 100LS nồng độ 2%, liều lượng 0,14 lít xung quanh gốc và thân cây.

Kết quả kiểm tra sau 5 tháng tỷ lệ chết trung bình là 140 cây/ 1017cây (1ha) là 13,7%, còn ở nơi không xử lý là 37%.

Nghiên  cứu biện pháp diệt mối bằng bả

Thức ăn của các loài mối gây hại cây

Theo kết quả đã công bố, thành phần loài mối hại cây ca cao, cây cà phê, cao su ở Tây Nguyên chủ yếu là cácloài Microtermes pakistanicus, Odototermes ceylonicus, Odototermes angustignathus, Odototermes oblongatusvà Macrotermes gilvus [4]. 5 loài này đều thuộc phân họ Macrotermitinae. Qua khảo sát trên hiện trường cho thấy thức ăn phổ biến của các loài này là các sản phẩm thực vật rơi rụng trong vườn cây, các phần tế bào chết thân thân cây và các phần tế bào sống của thân cây. Trong các sản phẩm mô chết của thực vật, điều dễ nhận thấy là mối ưa thích khai thác các loại cành cây, lá cây đã ải, chúng thường khai thác phần đã ải bên ngoài của các cành cây, khai thác lá cây ải và để lại các phần gỗ cứng và lá mới rụng. Trong tổ mối luôn xây dựng vườn nấm bên trên để phân huỷ một phần rồi ăn phần vườn nấm đã chín ở phía dưới tức là phần thức ăn đã được phân huỷ một phần do nấm.

Phân bố của mối

Trên bề mặt của vườn cây, hầu hãn hữu mới thấy sự xuất hiện của các tổ mối nổi, kể cả tổ mối của loài thường làm tổ nổi là Macrotermes gilvus, nhưng có rất nhiều dấu hiệu hoạt động của chúng trên thân cây, trên thảm bổi của vườn cây. Qua quan sát các hố đào để trồng cây chúng tôi thấy rất nhiều hố có gặp các vườn nấm của các loài Microtermes pakistanicus, Odototermes angustignthus, hãn hữu gặp khoang tổ của loài Macrotermes gilvus. Khoang tổ nông nhất mà chúng tôi đã gặp là 5cm. Điều đó chứng tỏ trong vườn trồng cây mối thường cư trú dưới lòng đất. Tại các vườn cà phê kinh doanh, các hố quanh gốc cà phê để tưới nước cho thấy bên dưới không có khoang tổ mối, các khoang tổ chỉ có ở dải đất giữa các cây cà phê.

Khả năng nhử mối để đánh bả

Từ trước tới nay, việc nhử mối để tiến hành phun thuốc lây nhiễm hoặc đánh bả thường chỉ thực hiện thành công đối với các loài mối gỗ ẩm (Coptotermes). Tuy nhiên, để có thể tiến hành xử lý các loài mối Macrotermitinae bằng bả chúng tôi đã tiến hành thử các biện pháp nhử mối.

Sử dụng các sản phẩm là thân cây điền thanh, cành cây điền thanh, thân cây muồng đen, thân cây muồng vàng, cành cây cao su (các loại sản phẩm phổ biến trong khu vực trồng cà phê và ca cao, cao su), tất cả được cắt thành các đoạn dài 30cm. Bố trí thí nghiệm như sau:

Giữa các hàng cây, tại điểm thẳng với 2 cây ở 2 hàng đặt các mồi nhử mối, mồi nhử gồm 6 loại thức ăn xếp xen kẽ nhau, gồm:

Loại 1 là đoạn điền thanh có đường kính 3 đến 4cm cắm đứng ứng sâu 10cm,

Loại 2 là 1 đoạn điền thanh có đường kính 3 đến 4cm đặt nằm,

Loại 3 là bó cành điền thanh đặt nằm có đường kính 8cm,

Loại 4 là bó cành muồng đen đặt nằm có đường kính 8cm,

Loại 5 là bó muồng vàng đặt nằm có đường kính 8cm,

Loại 6 là bó cành cây cao su đặt nằm có đường kính 8cm.

Mỗi loại gồm 20 cái. Sau 3 ngày đến quan sát mức độ mối xâm nhập. Kết quả thể hiện trên bảng 1. Cũng trong thí nghiệm này, chúng tôi đã thử nhấc các mồi nhử lên để kiểm tra mức độ ổn định của mới ở nguồn thức ăn như khi đánh bả (đưa bả vào nơi mối đang khai thác thức ăn). Sau 30 phút quay lại kiểm tra cho thấy, tỷ lệ mối còn lại ở nguồn thức ăn cắm đứng là cao nhất là 52% (bảng 1).

Bảng 1. Tỷ lệ mối xâm nhập và mức độ ổn định của mối ở các nguồn thức ăn khác nhau

Loại thức ăn Loại 1 Loại 2 Loại 3 Loại 4 Loại 5 Loại 6

Tỷ lệ có mối đến ăn (%)

55 50 59 55 60 60

Tỷ lệ còn mối (%)

52 8 8 10 14 15

Hiệu quả diệt mối của biện pháp bả

Để thử hiệu quả diệt mối của bả diệt mối chúng tôi chọn các ô thí nghiệm rộng 2000m2. Xung quanh lô cây trồng được đào rãnh sâu 50cm sau đó dùng ni lông dạng ống dựng thành tường ngăn cao hơn mặt đất 5cm. Bên trong ô được đánh bả. Các mồi nhử mối được đặt ở giữa các hàng cây. Sau khoảng 3 ngày đến kiểm tra. Tại các mồi nhử mối mà mối đã ăn lên bên trên mẩu gỗ cao su thì đưa bả vào nơi mối đang ăn từ 1 đến 3 thanh bả (mỗi thanh nặng khoảng 1g). Kết quả cho thấy mối có ăn bả, nhiều điểm mối ăn gần hết hoặc hết bả và nhiều điểm thấy hết mối. Còn những nơi không đánh bả thì mối vẫn còn và ăn gỗ mạnh hơn. Việc đánh bả được tiến hành nhiều đợt. Các loài mối đến ăn gỗ ở mồi nhử  và bả là Microtermes pakistanicus, Odontotermes sp. Macrotermes gilvus. Sau 1 tháng xử lý, chủ vườn cây cho biết gần như không thấy hiện tượng cây chết ở lô thí nghiệm, còn tỷ lệ chết ở lô đối chứng là 5%.

Thảo luận

Biện pháp dùng hoá chất hoặc vi nấm trộn vào đất thực chất là để tạo hàng rào ngăn mối. Giải pháp này thường được dùng trong việc phòng mối cho công trình xây dựng. Hiệu quả của biện pháp này tuỳ thuộc vào độ bền của loại thuốc, liều lượng sử dụng và điều kiện của môi trường. Trong thí nghiệm 3 có sử dụng sản phẩm Metavina 90DP là dạng bào tử trần của nấm Metarhizium. Sản phẩm này được trộn với cát vàng và cát đen để  phòng mối trong công trình xây dựng rất hiệu quả và có kéo dài hiệu lực ngăn mối trên 6 tháng [2], thậm chí 12 tháng (tài liệu chưa công bố). Tuy nhiên, trong thí nghiệm này Metavina 90DP được trộn lẫn với đất bazan nên có thể đây là nguyên nhân gây suy giảm hiệu lực phòng mối của chế phẩm này. Thực tế hiệu lực ngăn mối là không đáng kể nên mối vẫn xâm nhập vào cây và gây chết cây với tỷ lệ như ô đối chứng, không nên sử dụng chế chế phẩm này để phòng mối cho cây trồng.

Trong thí nghiệm 1 và 2 có sử dụng 2 dạng hoá chất chuyên dùng để phòng trừ mối, có độ bền lâu. Hơn nữa nồng độ và liều lượng sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất là 5 lít/m2 nên đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, đây mới là kết quả ngăn mối trong thời hạn 3 tháng. Sau 3 tháng hiệu lực ngăn mối của 2 loại hoá chất này có còn không thì còn phải theo dõi tiếp. Với biện pháp này chỉ ngăn mối xâm nhập vào cây mà không diệt được các tổ mối ở xung quanh cây, chắc chắn rằng sau khi thuốc hết hiệu lực ngăn mối, mối sẽ lại tiếp tục tấn công cây. Thí nghiệm này sẽ được theo dõi tiếp.

Hiệu quả ngăn mối của biện pháp dùng các loại thuốc bột (Basudin) trộn vào gốc cây và cứ 2 tháng lại phun các loại thuốc trừ sâu thông thường vào gốc và thân cây. Hiệu quả của biện pháp này thấp, tỷ lệ chết của cây ở lô thí nghiệm giảm không đáng kể, tỷ lệ chết là 13.7% trong khi đó ở lô đối chứng là 37%. Nguyên nhân gây ra hiệu quả thấp có lẽ là do việc trộn ít thuốc bột ở sát bầu khi trồng và chỉ phun một lượng dịch thuốc nhỏ (0,14lít/ cây) cho mỗi lần nên chỉ tạo ra hàng rào mỏng (theo tiêu chuẩn phòng mối cho công trình xây dựng đòi hỏi chiều dày của hàng rào ngăn mối tối thiểu là 30cm), hơn nữa lại không phải là loại thuốc chuyên dùng cho mối nên hiệu quả ngăn mối không cao. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cúu của Võ Chấp khi sử dụng Confidor 100LS, Sago-super 3G. Nokaph 10H để phòng mối hại cây ca cao, ngay trong kết quả của Võ Chấp đã cho thấy ngay sau 7 ngày tưới thuốc thì mối đã có mặt ở dưới đất quanh gốc cây tuy tỷ lệ thấp hơn so với  đối chứng[1].

Điều dễ hiểu là nếu trên một diện rộng mà mật độ mối còn không đáng kể thì cây sẽ không bị mối tấn công nữa. Với đặc điểm là các loài mối hại cây thường làm tổ chìm thì việc tiến hành tìm tổ và diệt mối tại tổ như trên môi trường đê, đập là không khả thi vì kinh phí thăm dò rất lớn. Việc tiến hành diệt mối bằng biện pháp gián tiếp là khả thi hơn. Với những dẫn liệu về loại thức ăn có thể nhử mối, vị trí tổ mối nằm ở dải đất giữa các cây trồng, kiểu cắm đứng mồi nhử mang lại về sự ổn định cho mối khai thác thức ăn là những cơ sở tốtđể tiến hành biện pháp diệt mối bằng bả độc. Hiện nay, ở Việt Nam biện pháp xử lý diệt mối trên diện rộng bằng bả mới được thử nghiệm. Mặc dù có kết quả ban đầu là mối có ăn bả và chết, nhưng hiệu quả bảo vệ cây cần được đánh giá cụ thể bằng tỷ lệ chết của cây ở lô thí nghiệm so với đối chứng. Để đảm bảo diệt được mối trên diện rộng đòi hỏi phải tiến hành đồng thời trên một diện tích rộng lớn. Nếu biện pháp này có hiệu quả thì phải tiến hành xử lý mối từ trước khi đặt cây vào hố trồng vì khi cây mới trồng cây còn yếu dễ bị mối tấn công.

Kết luận

Biện pháp  dùng thuốc Termidor 2.5 EC và Lentrek 40EC có hiệu lực ngăn mối bảo vệ cây cao hơn so với biện pháp trộn thuốc bột xung quanh bầu và phun thuốc diệt mối dạng nước 2 tháng một lần.

Biện pháp diệt mối bảo vệ cây bằng bả bước đầu có thể diệt được mối Macroterrmitinae.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Võ Chấp, 2005. Nghiên cứu một số đặc điểm về mối hại ca cao thời kỳ kiến thiết cơ bản và biện pháp phòng trừ. Tài liệu nội bộ của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm Tây Nguyên. 1-14.

[2]. Lê Ngọc Hoan, Trịnh Văn Hạnh, Nguyễn Thị Hải, 2007. Khả năng ngăn mối của chế phẩm Metavina 90DP. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tập 10+11; 91-94.

[3]. Nguyễn Văn Quảng và nnk. 2007. Dẫn liệu về sự gây hại của mối (Isoptera) đối với cây cao su, cà phê và ca cao ở Tây Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tập 10+11;132-135.

[4]. Nguyễn Tân Vương và nnk, 2007. Thành phần loài mối (Isoptera) trong sinh cảnh cây cao su, cà phê, ca cao ở các tỉnh Tây Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tập 10+11;151-156.

[5]. Harris, V., 1971. Termites – Their recognition and control. Longman, 1971: 78-99.

[6]. Sen – Sarma, P. K. 1974. Ecology and biogeography of the termites of India, 421 – 472 (not see all of the document).

[7]. Wood, T. G., Bednarzik, M., Aden, H., 1987. Damage to crops by Microtermes najdensis (Isoptera, Macrotermitinae) in irrgated semi-desert areas of the Red Sea coast. Tropical Development and Research institute, College House, Wrights Lane, London WB 5sj, U.K; 142: 150.

Tác giả: Nguyễn Tân Vương, Nguyễn Quốc Huy
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Trích nguồn Tuyển tập KHCN 50 năm tập II

VIET NAM PEST CONTROL