Các phương pháp diệt mối cho nhà ở

Mối là loại côn trùng hại gỗ rất mạnh. Hiện ở Việt Nam đã có tới 90 loại mối khác nhau, khi bị mối xâm nhập thì không chỉ có các loại gỗ, hàng hoá bị huỷ hoại mà ngay cả kiến trúc nhà ở, công trình cũng bị xuống cấp và có thể bị sụp lún.

altNgoài ra, mối còn phá hoại cả một số vận dụng có thành phần xen-lu-lô làm như giấy, vải, chăn màn… Báo công nghiệp Việt Nam xin giới thiệu một số cách diệt mối an toàn và hiệu quả.

Chuẩn bị nguyên vật liệu

Gồm hộp nhử mối, thuốc diệt mối DM 90 (có bán nhiều tại các Trung tâm phòng chống mối mọt của địa phương). Hộp nhử mối nếu không mua được thì có thể làm bằng bìa các tông kích thước rộng 12 cm, dài 28 cm bên trong có chứa các thanh gỗ thông trắng hoặc gỗ trám, bồ đề có kích thước dầy khoảng 1 cm, rộng 5 cm, dài 25 cm xếp khít với nhau. Tuyệt đôi không dùng những loại gỗ đã bị mốc hoặc đã từng bị mối xông. Nếu không có gỗ, có thể thay bằng bã mía khô hoặc chiếu rách.

Cách làm

Đối với những ngôi nhà đang sử dụng thì có thể diệt mối bằng cách dùng chất dẫn dụ có trong hộp thuốc nhử mối để nhử chúng tập trung lại một chỗ rồi phun thuốc. Khi ngấm thuốc, mối sẽ hoảng loạn, tìm đường về tổ và sẽ chết tại tổ. Số mối còn lại trong tổ cũng sẽ bị lây thuốc và chết. Để tiêu diệt triệt để mối tại các góc khuất của công trình, cần thực hiện việc phun thuốc xua đuổi để tiêu diệt, gồm các bước sau:

– Đặt hộp nhử mối:

Đặt hộp nhử mối vào nơi đang có mối hoạt động, dùng đinh hoặc dây thép nhỏ để buộc cố định hộp nhử vào một chỗ. Để hộp nhử từ 15 đến 20 ngày, trong suốt quá trình này, tuyệt đối không được mở hộp ra xem hoặc động chạm vào hộp. Có thể nhìn thấy mối vào hộp bằng cách quan sát mép hộp nhử thấy có vết đất đắp lên có nghĩa là mối đang vào.

– Phun thuốc:

Khi thấy vết đắp đất đắp kín các kẽ hở của hộp nhử, lúc này có thể tiến hành phun thuốc: Bóc hộp nhử ra (sẽ thấy có rất nhiều mối ở trong đó), lấy thuốc bột DM 90 nhẹ nhàng rắc hoặc xịt vào những con mối ở trong hộp. Thuốc được xịt vào mối phải đều, tránh trường hợp con thì dính nhiều thuốc quá, con thì không bị dính thuốc. 100g thuốc DM 90 có thể phun xịt đủ cho hai hộp nhử. Khi phun thuốc xong, nhẹ nhàng đặt hộp nhử mối vào chỗ cũ để cho mối đã dính thuốc trở về tổ. Những con mối này sẽ mang theo thuốc trên mình về tổ, dẫn đến toàn bộ tổ mối bị tiêu diệt.

Lưu ý: phun thuốc vào nơi tiếp giáp giữa nền nhà với đáy hộp nhử để những con mối có ở đó dính thuốc trước khi chạy về tổ. Sau đó dùng tuốc nơ vít tách lần lượt thanh gỗ mồi trong hộp nhử để phun thuốc diệt mối.

Sau khi phun thuốc từ 3 -5 ngày, cần kiểm tra tất cả các điểm mối xuất hiện trong nhà một lần nữa, nếu thấy vẫn còn mối chứng tỏ ta làm chưa hoàn thiện và còn sót lại một tổ mối nào đó chưa bị tiêu diệt hết, cần làm lại lần nữa, nếu thấy không có mối sống hoạt động là đạt kết quả tốt, chỉ cần làm vệ sinh dọn bỏ tàn dư hộp nhử là được.

Chú ý: Để đảm bảo an toàn khi phun thuốc diệt mối, phải mang đồ bảo hộ lao động như quần áo, găng tay, khẩu trang… Không nên để thuốc dây ra tay hoặc bay vào bể nước uống hay đồ ăn thức uống của người và gia súc gia cầm. Sau khi phun thuốc và dọn bỏ hộp nhử đã phun thuốc phải dọn vệ sinh, giặt sạch quần áo. Phế thải của quá trình diệt mối phải được chôn cách xa khu dân cư và nguồn nước, không được tuỳ tiện đốt hoặc vứt xuống cao, hồ.

VIET NAM PEST CONTROL

Phòng trừ mối hại cây trồng

Mối là nhóm côn trùng xã hội gồm khoảng 2700 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Nhiều loài được coi là đối tượng gây hại cho cây trồng, ỗi vùng có danh sách các loài mối gây hại khác nhau. Tác hại của mối thường được đánh giá ở các khía cạnh: mối tấn công tế bào sống của cây, làm gãy cành và thân cây.

Ở Việt Nam, dẫn liệu về mối gây hại cây trồng còn rất ít ỏi. Nhằm đưa ra các dẫn liệu về thành phần loài, mức độ tác hại của mối đối với cây trồng chúng tôi được thực hiện đề tài “Nghiên cứu phòng trừ mối hại cây công nghiệp ca cao, cà phê và đập ở các tỉnh Tây Nguyên”. Sau 2 năm nghiên cứu từng phần kết quả của đề tài về thành phần loài, mức độ gây hại và đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài đã được công bố, trong đó nêu rõ mức độ gây chết cây mới trồng và các loài mối gây hại nghiêm trọng đối với cây cà phê, ca cao mới trồng là các loài Macrotermitinae và nguy hiểm nhất là loài Microtermes pakistanicus [2,3]. Trong bài báo này, chúng tôi đưa ra những kết quả ban đầu về việc áp dụng các biện pháp xử lý của một số nhà nghiên cứu, các chủ vườn cây và những kết quả nghiên cứu mới theo hướng này.

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

Các loại thuốc phòng trừ mối, ni lông dùng để ngăn mối được mua trên thị trường Việt Nam, ni lông là loại dùng để che phủ luống trồng cây trong nông nghiệp. Bả diệt mối được chế tạo tại Trung tâm Nghiên cứu phòng trừ mối.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm xử lý phòng trừ mối cho cây trồng được tiến hành bằng các cách khác nhau rồi kiểm tra hiệu quả phòng trừ mối. Hiệu quả của các biện pháp xử lý phòng trừ mối cho cây được thử nghiệm trên các lô cây trồng trên nền đất bazan được kiểm tra bằng cách thống kê tỷ lệ cây chết ở lô thí nghiệm so với tỷ lệ chết của cây ở lô đối chứng. Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần có đối chứng.

Hiệu quả phòng mối của các biện pháp mà các chủ vườn thực hiện theo hướng dẫn của các nhà nông học được thống kê trên diện tích lớn (1ha) có so đối chứng.

Thức ăn của các loài mối được thu thập, mô tả trên hiện trường và kết hợp với thu mẫu mối.

Phân bố của mối được quan sát qua các hố đào ở nền vườn trước khi trồng và ở lô cà phê trưởng thành.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Hiệu quả của biện pháp trộn hoá chất vào trong hố đất trồng cây

Thí nghiệm 1:

Thí nghiệm được bố trí tại vườn cây trồng cây cà phê, các hố trồng cây có kích thước 45cmx 45cm x 50cm. Chọn 3 ô thí nghiệm, mỗi ô 9 cây. Sau khi trồng cây, xung quang gốc cây được tưới thuốc Lentrek 40EC với bán kính là 35cm, nồng độ1,5%, liều lượng là 1,7lít / 1 gốc cây.

Sau 3 tháng kiểm tra. Tỷ lệ chết ở lô thí nghiệm là 0%, trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng (chỉ tưới nước) là 5%.

Thí nghiệm 2:

Thí nghiệm được bố trí tại vườn cây trồng cây cà phê, các hố trồng cây có kích thước 45cmx 45cm x 50cm. Chọn 3 ô thí nghiệm, mỗi ô 9 cây. Sau khi trồng cây, xung quang gốc cây được tưới thuốc Termidor 2.5EC với bán kính là 35cm, nồng độ 0,15%, liều lượng là 1,7lít / 1 gốc cây.

Sau 3 tháng kiểm tra. Tỷ lệ chết ở lô thí nghiệm là 0%, trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng (chỉ tưới nước) là 5%.

Hiệu quả của biện pháp trộn chế phẩm vi nấm vào đất trồng cây

Thí nghiệm 3:

Thí nghiệm được bố trí trên 3 ô, mỗi ô 9 cây như thí nghiệm 1, chỉ khác là chế phẩm vi nấm ở dạng bột nên phải trộn khô với đất trước khi đưa vào hố để trồng cây. Mỗi hố được trộn 100g chế phẩm Metavina 90DP.

Sau 3 tháng kiểm tra. Tỷ lệ chết ở các lô thí nghiệm là 18,5% trong khi đó tỷ lệ chết ở lô đối chứng là 20%.

Hiệu quả của biện pháp dùng các loại hoá chất khác tưới vào gốc cây và thân cây

Biện pháp này được thực hiện bởi các nông trường viên như ở Công ty cà phê Eapok, Công ty Cà phê Tháng 10, Công ty cà phê Krông Ana. Thường khi trồng, xung quanh gốc cây được rắc xung quanh bầu cây bằng thuốc Basudin 10H với liều lượng 5g/hố.

Sau 1 tháng lại lấy Basudin 10H rắc vào gốc cây, sau khi rắc lấy đất xung quanh rắc phủ lên 1cm với liều lượng 1,5g/gốc.

Sau đó khoảng 2 tháng một lần sẽ phun Subatox 40EC với liều lượng 0,14 lít/gốc, nồng độ 3% hay Confidor 100LS nồng độ 2%, liều lượng 0,14 lít xung quanh gốc và thân cây.

Kết quả kiểm tra sau 5 tháng tỷ lệ chết trung bình là 140 cây/ 1017cây (1ha) là 13,7%, còn ở nơi không xử lý là 37%.

Nghiên  cứu biện pháp diệt mối bằng bả

Thức ăn của các loài mối gây hại cây

Theo kết quả đã công bố, thành phần loài mối hại cây ca cao, cây cà phê, cao su ở Tây Nguyên chủ yếu là cácloài Microtermes pakistanicus, Odototermes ceylonicus, Odototermes angustignathus, Odototermes oblongatusvà Macrotermes gilvus [4]. 5 loài này đều thuộc phân họ Macrotermitinae. Qua khảo sát trên hiện trường cho thấy thức ăn phổ biến của các loài này là các sản phẩm thực vật rơi rụng trong vườn cây, các phần tế bào chết thân thân cây và các phần tế bào sống của thân cây. Trong các sản phẩm mô chết của thực vật, điều dễ nhận thấy là mối ưa thích khai thác các loại cành cây, lá cây đã ải, chúng thường khai thác phần đã ải bên ngoài của các cành cây, khai thác lá cây ải và để lại các phần gỗ cứng và lá mới rụng. Trong tổ mối luôn xây dựng vườn nấm bên trên để phân huỷ một phần rồi ăn phần vườn nấm đã chín ở phía dưới tức là phần thức ăn đã được phân huỷ một phần do nấm.

Phân bố của mối

Trên bề mặt của vườn cây, hầu hãn hữu mới thấy sự xuất hiện của các tổ mối nổi, kể cả tổ mối của loài thường làm tổ nổi là Macrotermes gilvus, nhưng có rất nhiều dấu hiệu hoạt động của chúng trên thân cây, trên thảm bổi của vườn cây. Qua quan sát các hố đào để trồng cây chúng tôi thấy rất nhiều hố có gặp các vườn nấm của các loài Microtermes pakistanicus, Odototermes angustignthus, hãn hữu gặp khoang tổ của loài Macrotermes gilvus. Khoang tổ nông nhất mà chúng tôi đã gặp là 5cm. Điều đó chứng tỏ trong vườn trồng cây mối thường cư trú dưới lòng đất. Tại các vườn cà phê kinh doanh, các hố quanh gốc cà phê để tưới nước cho thấy bên dưới không có khoang tổ mối, các khoang tổ chỉ có ở dải đất giữa các cây cà phê.

Khả năng nhử mối để đánh bả

Từ trước tới nay, việc nhử mối để tiến hành phun thuốc lây nhiễm hoặc đánh bả thường chỉ thực hiện thành công đối với các loài mối gỗ ẩm (Coptotermes). Tuy nhiên, để có thể tiến hành xử lý các loài mối Macrotermitinae bằng bả chúng tôi đã tiến hành thử các biện pháp nhử mối.

Sử dụng các sản phẩm là thân cây điền thanh, cành cây điền thanh, thân cây muồng đen, thân cây muồng vàng, cành cây cao su (các loại sản phẩm phổ biến trong khu vực trồng cà phê và ca cao, cao su), tất cả được cắt thành các đoạn dài 30cm. Bố trí thí nghiệm như sau:

Giữa các hàng cây, tại điểm thẳng với 2 cây ở 2 hàng đặt các mồi nhử mối, mồi nhử gồm 6 loại thức ăn xếp xen kẽ nhau, gồm:

Loại 1 là đoạn điền thanh có đường kính 3 đến 4cm cắm đứng ứng sâu 10cm,

Loại 2 là 1 đoạn điền thanh có đường kính 3 đến 4cm đặt nằm,

Loại 3 là bó cành điền thanh đặt nằm có đường kính 8cm,

Loại 4 là bó cành muồng đen đặt nằm có đường kính 8cm,

Loại 5 là bó muồng vàng đặt nằm có đường kính 8cm,

Loại 6 là bó cành cây cao su đặt nằm có đường kính 8cm.

Mỗi loại gồm 20 cái. Sau 3 ngày đến quan sát mức độ mối xâm nhập. Kết quả thể hiện trên bảng 1. Cũng trong thí nghiệm này, chúng tôi đã thử nhấc các mồi nhử lên để kiểm tra mức độ ổn định của mới ở nguồn thức ăn như khi đánh bả (đưa bả vào nơi mối đang khai thác thức ăn). Sau 30 phút quay lại kiểm tra cho thấy, tỷ lệ mối còn lại ở nguồn thức ăn cắm đứng là cao nhất là 52% (bảng 1).

Bảng 1. Tỷ lệ mối xâm nhập và mức độ ổn định của mối ở các nguồn thức ăn khác nhau

Loại thức ăn Loại 1 Loại 2 Loại 3 Loại 4 Loại 5 Loại 6

Tỷ lệ có mối đến ăn (%)

55 50 59 55 60 60

Tỷ lệ còn mối (%)

52 8 8 10 14 15

Hiệu quả diệt mối của biện pháp bả

Để thử hiệu quả diệt mối của bả diệt mối chúng tôi chọn các ô thí nghiệm rộng 2000m2. Xung quanh lô cây trồng được đào rãnh sâu 50cm sau đó dùng ni lông dạng ống dựng thành tường ngăn cao hơn mặt đất 5cm. Bên trong ô được đánh bả. Các mồi nhử mối được đặt ở giữa các hàng cây. Sau khoảng 3 ngày đến kiểm tra. Tại các mồi nhử mối mà mối đã ăn lên bên trên mẩu gỗ cao su thì đưa bả vào nơi mối đang ăn từ 1 đến 3 thanh bả (mỗi thanh nặng khoảng 1g). Kết quả cho thấy mối có ăn bả, nhiều điểm mối ăn gần hết hoặc hết bả và nhiều điểm thấy hết mối. Còn những nơi không đánh bả thì mối vẫn còn và ăn gỗ mạnh hơn. Việc đánh bả được tiến hành nhiều đợt. Các loài mối đến ăn gỗ ở mồi nhử  và bả là Microtermes pakistanicus, Odontotermes sp. Macrotermes gilvus. Sau 1 tháng xử lý, chủ vườn cây cho biết gần như không thấy hiện tượng cây chết ở lô thí nghiệm, còn tỷ lệ chết ở lô đối chứng là 5%.

Thảo luận

Biện pháp dùng hoá chất hoặc vi nấm trộn vào đất thực chất là để tạo hàng rào ngăn mối. Giải pháp này thường được dùng trong việc phòng mối cho công trình xây dựng. Hiệu quả của biện pháp này tuỳ thuộc vào độ bền của loại thuốc, liều lượng sử dụng và điều kiện của môi trường. Trong thí nghiệm 3 có sử dụng sản phẩm Metavina 90DP là dạng bào tử trần của nấm Metarhizium. Sản phẩm này được trộn với cát vàng và cát đen để  phòng mối trong công trình xây dựng rất hiệu quả và có kéo dài hiệu lực ngăn mối trên 6 tháng [2], thậm chí 12 tháng (tài liệu chưa công bố). Tuy nhiên, trong thí nghiệm này Metavina 90DP được trộn lẫn với đất bazan nên có thể đây là nguyên nhân gây suy giảm hiệu lực phòng mối của chế phẩm này. Thực tế hiệu lực ngăn mối là không đáng kể nên mối vẫn xâm nhập vào cây và gây chết cây với tỷ lệ như ô đối chứng, không nên sử dụng chế chế phẩm này để phòng mối cho cây trồng.

Trong thí nghiệm 1 và 2 có sử dụng 2 dạng hoá chất chuyên dùng để phòng trừ mối, có độ bền lâu. Hơn nữa nồng độ và liều lượng sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất là 5 lít/m2 nên đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, đây mới là kết quả ngăn mối trong thời hạn 3 tháng. Sau 3 tháng hiệu lực ngăn mối của 2 loại hoá chất này có còn không thì còn phải theo dõi tiếp. Với biện pháp này chỉ ngăn mối xâm nhập vào cây mà không diệt được các tổ mối ở xung quanh cây, chắc chắn rằng sau khi thuốc hết hiệu lực ngăn mối, mối sẽ lại tiếp tục tấn công cây. Thí nghiệm này sẽ được theo dõi tiếp.

Hiệu quả ngăn mối của biện pháp dùng các loại thuốc bột (Basudin) trộn vào gốc cây và cứ 2 tháng lại phun các loại thuốc trừ sâu thông thường vào gốc và thân cây. Hiệu quả của biện pháp này thấp, tỷ lệ chết của cây ở lô thí nghiệm giảm không đáng kể, tỷ lệ chết là 13.7% trong khi đó ở lô đối chứng là 37%. Nguyên nhân gây ra hiệu quả thấp có lẽ là do việc trộn ít thuốc bột ở sát bầu khi trồng và chỉ phun một lượng dịch thuốc nhỏ (0,14lít/ cây) cho mỗi lần nên chỉ tạo ra hàng rào mỏng (theo tiêu chuẩn phòng mối cho công trình xây dựng đòi hỏi chiều dày của hàng rào ngăn mối tối thiểu là 30cm), hơn nữa lại không phải là loại thuốc chuyên dùng cho mối nên hiệu quả ngăn mối không cao. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cúu của Võ Chấp khi sử dụng Confidor 100LS, Sago-super 3G. Nokaph 10H để phòng mối hại cây ca cao, ngay trong kết quả của Võ Chấp đã cho thấy ngay sau 7 ngày tưới thuốc thì mối đã có mặt ở dưới đất quanh gốc cây tuy tỷ lệ thấp hơn so với  đối chứng[1].

Điều dễ hiểu là nếu trên một diện rộng mà mật độ mối còn không đáng kể thì cây sẽ không bị mối tấn công nữa. Với đặc điểm là các loài mối hại cây thường làm tổ chìm thì việc tiến hành tìm tổ và diệt mối tại tổ như trên môi trường đê, đập là không khả thi vì kinh phí thăm dò rất lớn. Việc tiến hành diệt mối bằng biện pháp gián tiếp là khả thi hơn. Với những dẫn liệu về loại thức ăn có thể nhử mối, vị trí tổ mối nằm ở dải đất giữa các cây trồng, kiểu cắm đứng mồi nhử mang lại về sự ổn định cho mối khai thác thức ăn là những cơ sở tốtđể tiến hành biện pháp diệt mối bằng bả độc. Hiện nay, ở Việt Nam biện pháp xử lý diệt mối trên diện rộng bằng bả mới được thử nghiệm. Mặc dù có kết quả ban đầu là mối có ăn bả và chết, nhưng hiệu quả bảo vệ cây cần được đánh giá cụ thể bằng tỷ lệ chết của cây ở lô thí nghiệm so với đối chứng. Để đảm bảo diệt được mối trên diện rộng đòi hỏi phải tiến hành đồng thời trên một diện tích rộng lớn. Nếu biện pháp này có hiệu quả thì phải tiến hành xử lý mối từ trước khi đặt cây vào hố trồng vì khi cây mới trồng cây còn yếu dễ bị mối tấn công.

Kết luận

Biện pháp  dùng thuốc Termidor 2.5 EC và Lentrek 40EC có hiệu lực ngăn mối bảo vệ cây cao hơn so với biện pháp trộn thuốc bột xung quanh bầu và phun thuốc diệt mối dạng nước 2 tháng một lần.

Biện pháp diệt mối bảo vệ cây bằng bả bước đầu có thể diệt được mối Macroterrmitinae.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Võ Chấp, 2005. Nghiên cứu một số đặc điểm về mối hại ca cao thời kỳ kiến thiết cơ bản và biện pháp phòng trừ. Tài liệu nội bộ của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm Tây Nguyên. 1-14.

[2]. Lê Ngọc Hoan, Trịnh Văn Hạnh, Nguyễn Thị Hải, 2007. Khả năng ngăn mối của chế phẩm Metavina 90DP. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tập 10+11; 91-94.

[3]. Nguyễn Văn Quảng và nnk. 2007. Dẫn liệu về sự gây hại của mối (Isoptera) đối với cây cao su, cà phê và ca cao ở Tây Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tập 10+11;132-135.

[4]. Nguyễn Tân Vương và nnk, 2007. Thành phần loài mối (Isoptera) trong sinh cảnh cây cao su, cà phê, ca cao ở các tỉnh Tây Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tập 10+11;151-156.

[5]. Harris, V., 1971. Termites – Their recognition and control. Longman, 1971: 78-99.

[6]. Sen – Sarma, P. K. 1974. Ecology and biogeography of the termites of India, 421 – 472 (not see all of the document).

[7]. Wood, T. G., Bednarzik, M., Aden, H., 1987. Damage to crops by Microtermes najdensis (Isoptera, Macrotermitinae) in irrgated semi-desert areas of the Red Sea coast. Tropical Development and Research institute, College House, Wrights Lane, London WB 5sj, U.K; 142: 150.

Tác giả: Nguyễn Tân Vương, Nguyễn Quốc Huy
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam

Trích nguồn Tuyển tập KHCN 50 năm tập II

VIET NAM PEST CONTROL